Diễn đàn chim cảnh.
Chào mừng các bạn ghé thăm diễn đàn chim chào mào!
Để có thể thảo luận cùng các nghệ nhân nuôi chim bạn vui lòng đăng kí làm thành viên tại đây.
Trân trọng cảm ơn!

Diễn đàn chim cảnh.

IndexPortalCalendarTrợ giúpTìm kiếmĐăng kýĐăng Nhập
Chào mừng các bạn than gia diễn đàn chào mào Đăk lăk


Share | 
 

 Chim thiên đường

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
admin
Người mê chim


Tổng số bài gửi : 107
Join date : 10/08/2010
Age : 27
Đến từ : Buôn Ma Thuôt

Bài gửiTiêu đề: Chim thiên đường   Fri Aug 27, 2010 10:05 pm

Chim thiên đường, một số tài liệu bằng tiếng Việt còn gọi là chim thiên hà, là các loài chim
thuộc họ Paradisaeidae, sống ở một số khu vực thuộc Australasia, bao gồm
miền đông Indonesia, New Guinea và đông bắc Australia. Các thành viên
của họ Thiên đường được biết đến nhiều nhất có lẽ là từ những bộ lông
sặc sỡ, đẹp của các con trống thuộc phần lớn các loài, được chúng sử
dụng để hấp dẫn con mái (con mái có bộ lông bình thường) bằng những điệu
nhảy và xòe cánh, múa đuôi. Con trống có đuôi dài và đẹp. Một số còn có
chỏm lông trên đầu hay lông cánh dài sặc sỡ. Các loài chim thiên đường
là một trong những loại chim biết hót cổ xưa nhất.



Họ Chim thiên đường dao động về kích thước từ nhỏ như ở chim thiên đường
vua chỉ nặng 50 gam (1,8 oz) và dài 15 cm (6 inch) tới mỏ liềm đen dài
110 cm (43 inch) và manucode mào quăn nặng 430 gam (15,2 oz).

Được biết đến nhiều nhất là các thành viên của chi Paradisaea, bao gồm
cả loài điển hình, chim thiên đường lớn (Paradisaea apoda). Loài này
được miêu tả từ các mẫu vật được các thương nhân mang về châu Âu. Các
mẫu vật này được các thương nhân bản địa tạo ra bằng cách tháo bỏ cánh
và chân sao cho chúng có thể dùng như là vật trang trí. Các nhà thám
hiểm thương mại đã không biết được điều này và dẫn tới niềm tin rằng
chúng không bao giờ đậu xuống đất mà luôn được giữ lơ lửng trong không
trung nhờ bộ lông. Đây là nguồn gốc cả cả tên gọi "chim thiên đường" lẫn
tên khoa học apoda - không chân.



Sinh học

Các loài trong họ Thiên đường nói chung trông giống như quạ về hình thái
cơ thể chung, và trên thực tế là nhóm có quan hệ chị-em với họ Quạ.
Chúng có mỏ chắc mập hoặc dài và chân khỏe, với khoảng hai phần ba số
loài là dị hình giới tính mạnh.

Chúng sống trong các khu rừng nhiệt đới, bao gồm rừng mưa nhiệt đới,
rừng đầm lầy và rừng rêu. Ở phần lớn các loài, thức ăn chủ yếu là trái
cây, mặc dù các loài súng trường và mỏ liềm cũng thích ăn cả sâu bọ và
các động vật chân khớp khác.

Phần lớn các loài có nghi thức kết đôi phức tạp, với các loài Paradisaea
sử dụng cách thức kết đôi kiểu cầu ngẫu trường. Các loài khác, chẳng
hạn như các chi Cicinnurus và Parotia, có các kiểu nhảy kết đôi mang
tính chất nghi thức cao. Các con trống là đa thê ở các loài dị hình giới
tính, nhưng là đơn thê ở ít nhất là một số loài đồng hình giới tính. Sự
lai tạp là phổ biến ở các loài chim này. Nhiều dạng lai ghép đã được
miêu tả như là các loài mới, và nghi ngờ liên quan tới một vài dạng, như
chim thiên đường mỏ thùy Rothschild, là có cơ sở.

Các loài trong họ này xây tổ từ các vật liệu mềm, như lá, dương xỉ, tua
dây leo, thường là trên các chạc cây. Số lượng trứng đẻ mỗi lần là chưa
chắc chắn. Ở các loài to lớn hơn, gần như chỉ là một quả. Các loài nhỏ
hơn có thể đẻ 2-3 trứng. Trứng được ấp nở trong 16-22 ngày, và chim non
rời tổ trong khoảng từ 16 tới 30 ngày tuổi

This image has been resized.Click to view original image


Các loài

Chi Lycocorax

* Chim thiên đường quạ đen, Lycocorax pyrrhopterus

Chi Manucodia

* Manucode lông mượt, Manucodia atra
* Manucode đảo Jobi, Manucodia jobiensis
* Manucode vòng lông cổ nhăn, Manucodia chalybata

* Manucode mào quăn, Manucodia comrii
This image has been resized.Click to view original image


* Manucode trumpet, Manucodia keraudrenii

Chi Paradigalla

* Paradigalla đuôi dài, Paradigalla carunculata

* Paradigalla đuôi ngắn, Paradigalla brevicauda
This image has been resized.Click to view original image


Chi Astrapia

* Astrapia núi Arfak, Astrapia nigra
* Astrapia tráng lệ, Astrapia splendidissima
* Astrapia đuôi mảnh, Astrapia mayeri
* Astrapia Stephanie, Astrapia stephaniae

* Astrapia bán đảo Huon, Astrapia rothschildi


Chi Parotia

* Parotia phương tây, Parotia sefilata
* Parotia Carola, Parotia carolae
* Parotia Berlepsch, Parotia berlepschi
* Parotia Lawes, Parotia lawesii
* Parotia phương đông, Parotia helenae

* Parotia Wahnes, Parotia wahnesi
This image has been resized.Click to view original image


Chi Pteridophora

* Chim thiên đường vua Saxony, Pteridophora alberti
This image has been resized.Click to view original image


Chi Lophorina

* Chim thiên đường hùng vĩ, Lophorina superba
This image has been resized.Click to view original image


Chi Ptiloris

* Súng trường tráng lệ, Ptiloris magnificus
* Súng trường phương đông, Ptiloris intercedens
* Súng trường thiên đường, Ptiloris paradiseus

* Súng trường Victoria, Ptiloris victoriae


Chi Epimachus

* Mỏ liềm đen, Epimachus fastuosus
* Mỏ liềm nâu, Epimachus meyeri
* Mỏ liềm mỏ đen, Epimachus albertisi

* Mỏ liềm mỏ nhạt, Epimachus bruijnii
This image has been resized.Click to view original image


Chi Cicinnurus

* Chim thiên đường tráng lệ, Cicinnurus magnificus
* Chim thiên đường Wilson, Cicinnurus respublica

* Chim thiên đường vua, Cicinnurus regius
This image has been resized.Click to view original image


Chi Semioptera

* Cánh chuẩn Wallace, Semioptera wallacii

Chi Seleucidis

* Chim thiên đường mười hai dây, Seleucidis melanoleuca


Chi Paradisaea

* Chim thiên đường nhỏ, Paradisaea minor
* Chim thiên đường lớn, Paradisaea apoda
* Chim thiên đường Raggiana, Paradisaea raggiana
* Chim thiên đường Goldie, Paradisaea decora
* Chim thiên đường đỏ, Paradisaea rubra
* Chim thiên đường hoàng đế, Paradisaea guilielmi

* Chim thiên đường lam, Paradisaea rudolphi
This image has been resized.Click to view original image



Tranh cãi

* Melampitta lớn, Melampitta gigantea- đặt vào đây không chắc chắn, có lẽ thuộc họ Orthonychidae.

Đã từng hiểu lầm

* Chim thiên đường Loria, Cnemophilus loriae - chắc chắn là gần với họ Melanocharitidae.
* Chim thiên đường mào, Cnemophilus macgregorii - chắc chắn là gần với họ Melanocharitidae .
* Chim thiên đường ngực vàng, Loboparadisea sericea - chắc chắn là gần với họ Melanocharitidae .
* Chim thiên đường Macgregor, Macgregoria pulchra - chắc chắn là gần với họ Melanocharitidae .
* Melampitta nhỏ, Melampitta lugubris - đôi lúc nằm trong họ chim thiên đường, nhưng nhiều phần nghiêng về họ Orthonychidae.
Nguồn LA bird

Bài viết của thành viên.


sometimes you get bored listening to a rock song.It make you fell better
Về Đầu Trang Go down
http://doiten.forumotion.net
admin
Người mê chim


Tổng số bài gửi : 107
Join date : 10/08/2010
Age : 27
Đến từ : Buôn Ma Thuôt

Bài gửiTiêu đề: Re: Chim thiên đường   Fri Aug 27, 2010 10:07 pm

Chim thiên đường quạ đen

Chim thiên đường quạ đen (tên khoa học: Lycocorax pyrrhopterus), còn
được biết đến với các tên khác như quạ nhung đen, là một loài thuộc chi
độc loài Lycocorax của họ chim thiên đường (Paradisaeidae), vẻ ngoài
trông giống như quạ. Cơ thể có kích thước trung bình (dài khoảng 34 cm);
toàn thân phủ một bộ lông đen tuyền, mềm và mượt; mỏ đen, mắt đỏ thắm
có ánh xanh rất nhẹ và có tiếng kêu làm người ta liên tưởng đến tiếng
chó sủa. Ở cả hai giới gần như không khác biệt vẻ ngoài (đồng hình giới
tính). Con mái thì hơi nhỏ hơn con trống.



Đây là một trong số ít loài chim thiên đường chỉ ghép đôi một lần trong
đời sống, là loài đặc hữu hẹp trên quần đảo Maluku, Indonesia. Thức ăn
chủ yếu bao gồm trái cây và động vật chân khớp (như nhện, bọ, rết...).
Có ba phân loài đã được ghi nhận, chúng không có hoặc có rất ít vạch
trắng phía trong các lông bay.



Trong môi trường tự nhiên, chim thiên đường quạ đen được xếp loại Ít
quan tâm (không gặp nguy hiểm trong môi trường tự nhiên) trong Sách đỏ
IUCN về các loài bị đe dọa; nó được xếp trong Phụ lục II của CITES.

Bài viết của thành viên.


sometimes you get bored listening to a rock song.It make you fell better
Về Đầu Trang Go down
http://doiten.forumotion.net
admin
Người mê chim


Tổng số bài gửi : 107
Join date : 10/08/2010
Age : 27
Đến từ : Buôn Ma Thuôt

Bài gửiTiêu đề: Re: Chim thiên đường   Fri Aug 27, 2010 10:08 pm

Astrapia núi Arfak

Astrapia núi Arfak (danh pháp khoa học: Astrapia nigra) là một loài chim
lớn, thuộc chi Astrapia, họ chim thiên đường. Kích thước cơ thể khoảng
76 cm, bộ lông óng ánh (do tán xạ) màu tím, xanh lá và màu đồng. Con đực
có đuôi dài và xoè rộng, lông ức đen tuyền và có một hệ thống lông trên
đầu hết sức phức tạp. Con cái có màu nâu ánh đen với vạch kẻ nhạt màu
trên phần bụng.


François Le Vaillant, nhà điểu học người Pháp đã gọi loài chim này là L’Incomparable (loài chim thiên đường vô song).

Là loài chim đặc hữu của Indonesia, astrapia núi Afrak chỉ xuất hiện
trong vùng núi Arfak ở bán đảo Vogelkop, tỉnh Tây Papua. Khẩu phần ăn
hằng ngày của chúng gồm chủ yếu là trái dứa dại.

Trong môi trường tự nhiên, chúng có thể giao phối với loài chim mỏ liềm
đen, tạo con lai đã từng có thời được coi là loài khác biệt, gọi là mỏ
liềm Elliot (Epimachus ellioti). Trong khi một số nhà điểu học vẫn còn
tin rằng nó là loài chim khác biệt, có thể là cực kỳ nguy cấp hay thậm
chí là tuyệt chủng, thì hiện tại nhiều người khác cho rằng nó chỉ là con
lai giữa hai loài.

Được bảo vệ bằng sự cô lập địa lý và các cánh rừng yên tĩnh, Astrapia
núi Arfak được đánh giá là Ít quan tâm trong Sách đỏ IUCN về các loài bị
đe dọa. Nó được liệt kê trong Phụ lục II của CITES.


Astrapia Stephanie

Astrapia Stephanie (danh pháp khoa học: Astrapia stephaniae, hay còn gọi
là Astrapia Công chúa Stephanie) là một loài chim thuộc họ chim thiên
đường đen; có kích thước cơ thể ở mức trung bình, dài khoảng 37 cm. Đầu
chim trống óng ánh (do tán sắc) màu xanh-ngọc và tía; bộ lông mượt và
hai cái lông đuôi trung tâm rộng, rất dài, màu đen ánh tía. Con mái có
màu nâu đậm, đầu đen ánh xanh và phần bụng màu nâu quế với các vạch dọc
màu đen.


Loài Astrapia Stephanie do Carl Hunstein phát hiện năm 1884. Là loài đặc hữu của vùng rừng miền trung và đông Papua New Guinea.

Người ta đặt tên loài nhằm tôn vinh Công chúa Stéphanie của Bỉ (bà là Hoàng phi của Thái tử Áo Rudolf bạc mệnh)[1].

Là loài chim phổ biến trong khu vực phân bố của mình, Astrapia Stephanie
được xếp hạng là Ít quan tâm trong Sách đỏ IUCN; nó được liệt kê trong
Phụ lục II của công ước CITES của Liên hợp quốc.


















Astrapia bán đảo Huon

Astrapia bán đảo Huon (danh pháp khoa học: Astrapia rothschildi) là một
loài thuộc họ chim thiên đường, có kích thước cơ thể trung bình, dài
khoảng 69cm. Con trống có bộ lông màu đen cùng với cái mào ánh xanh, sọc
lưng màu xanh-oliu, gáy đầu óng ánh lục-tím có thể vươn dài, và cái
đuôi đen hơi tím dài và rộng. Con mái nhỏ hơn con trống, bộ lông màu nâu
sẫm, có vạch kẻ nhạt màu trên bụng.



Loài chim ít được biết đến này phân bố ở vùng núi trên bán đảo Huon, trở
thành loài đặc hữu của Papua New Guinea. Thức ăn hằng ngày gồm trái cây
và các loại hạt.

Danh pháp khoa học được đặt theo tên nhà điểu học Lord Walter Rothschild, người Anh.

Astrapia bán đảo Huon sống trong một khu vực hạn hẹp, được xếp loại Ít
quan tâm theo Sách đỏ IUCN; nó được liệt trong Phụ lục II, Công ước
CITES của Liên hợp quốc.















Chim thiên đường lam

Chim thiên đường lam (danh pháp khoa học: Paradisaea rudolphi) là
một loài thuộc họ chim thiên đường đen, có kích thước cơ thể trung
bình, chỉ dài khoảng 30 cm. Mỏ chim màu trắng ánh lam; mống mắt (tròng
đen) màu nâu đậm, chân xám, vành khuyên mắt màu trắng đứt quãng, cánh
lam nhạt. Con trống được tô điểm bằng những chiếc lông màu lam tím và
nâu quế ở hông, cùng hai chiếc lông đuôi giống ruy-băng rất mảnh và dài.
Con mái có phần lông phía dưới màu nâu hạt dẻ.

This image has been resized.Click to view original image


Chim thiên đường lam là đặc hữu của Papua New Guinea. Nó phân bố ở vùng rừng phía đông-nam đảo New Guinea.

Một con chim trống ghép đôi với nhiều con mái và có các nghi thức ve vãn
bạn tình rất cầu kì. Nhưng khác với tất cả các loài khác thuộc chi
Paradisaea, chỉ con này múa một mình, còn con mái đứng im bên cạnh.
Trong tiết mục ve vãn do con trống trình bày, nó sẽ đu vào cành cây và
treo ngược thân. Ở ngay ức là một oval màu đen có dãy rìa màu đỏ, lan
rộng nhịp nhàng theo giọng hót để thu hút bạn tình. Cái lông đuôi màu
xanh tím xoè như nan quạt; đồng thời nó lắc lư cơ thể liên hồi và uốn
cong hai cái lông đuôi ruy-băng. Trong suốt quá trình, nó hót rất khẽ
trên nền khè-khè (cũng do nó tạo ra).

Năm 1884, Carl Hunstein phát hiện ra loài chim thiên đường lam. Giới
khoa học đặt tên loài là Paradisaea rudolphi để tưởng nhớ Thái tử Rudolf
yểu mệnh của Áo. Các nhà điểu học đều cho rằng đây là loài đáng yêu
nhất trong tất cả các loài.



Vì môi trường sống liên tục biến đổi, khu vực sống và số lượng loài nhỏ,
nạn săn bắt tiếp diễn, nên chim thiên đường lam được xếp loại Dễ thương
tổn theo Sách đỏ IUCN. Nó cũng nằm trong Phụ lục II của CITES.

Bài viết của thành viên.


sometimes you get bored listening to a rock song.It make you fell better
Về Đầu Trang Go down
http://doiten.forumotion.net
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Chim thiên đường   Today at 9:12 am

Về Đầu Trang Go down
 
Chim thiên đường
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Diễn đàn chim cảnh. :: Chia sẻ đam mê :: Các loài chim hót và chim rừng-
Chuyển đến