Diễn đàn chim cảnh.
Chào mừng các bạn ghé thăm diễn đàn chim chào mào!
Để có thể thảo luận cùng các nghệ nhân nuôi chim bạn vui lòng đăng kí làm thành viên tại đây.
Trân trọng cảm ơn!

Diễn đàn chim cảnh.

IndexPortalCalendarTrợ giúpTìm kiếmĐăng kýĐăng Nhập
Chào mừng các bạn than gia diễn đàn chào mào Đăk lăk


Share | 
 

 BỆNH NGOẠI KÝ SINH TRÊN CHÓ

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
admin
Người mê chim


Tổng số bài gửi : 107
Join date : 10/08/2010
Age : 27
Đến từ : Buôn Ma Thuôt

Bài gửiTiêu đề: BỆNH NGOẠI KÝ SINH TRÊN CHÓ   Thu Aug 12, 2010 4:00 pm

BỆNH NGOẠI KÝ SINH TRÊN CHÓ



1. Demodex canis

Là bệnh ghẻ trứng cá hay còn gọi là mò bao lông trên chó (Demodicidae),
là một ký sinh trùng ngoài da gây viêm nhiễm nang lông. Demodex canis
là một lớp nhện nhỏ có 8 đôi chân được nhìn thấy trên kính hiển vi có
hình con sâu.
1.1. Phân loại học
- Ngành: Arthropoda
- Lớp: Arachnida
- Bộ: Acrina
- Họ: Demodicidae (Mò bao lông)
- Giống: Demodex
- Loài: Demodex canis
1.2. Đặc điểm hình thái cấu tạo

- Mò nhỏ, cơ thể hơi dài, kích thước 0,1-0,3 mm, không có lông. Bốn
đôi chân ngắn, tiêu giảm giống như hình mấu. Đầu ngắn hình móng ngựa gồm
có 3 đốt và một đôi kìm.
- Mò ký sinh ở nang bao lông, tuyến
nhờn chân lông, lỗ chân lông, gây rụng lông sau gây viêm sung huyết, nếu
viêm nhiễm tái phát thì có mủ.
Hình 1. Demodex ở độ phóng đại (10 x 10)
1.3. Chu kỳ sinh học
Vòng đời của Demodex canis
Quá trình phát triển mò bao lông trải qua 4 giai đoạn:
Trứng Larva Protonymph Nymph Trưởng thành

Giai đoạn này cần 20 đến 35 ngày. Protonymph – nymph – trưởng thành: có
4 đôi chân, mỗi đôi chân có 5 đốt. Giai đoạn Larva thì có 3 đôi chân.
1.4. Triệu chứng - bệnh tích
- Dấu hiệu lâm sàng thường thấy là: Rụng lông, da nhờn, sừng hóa da.

- Bệnh có thể có ở chó vài ngày sau khi sanh, tỷ lệ nhiễm cao dần do
tiếp xúc mẹ truyền sang con, dấu hiệu thường thấy như: Da ửng đỏ, có
vảy, lỡ loét quanh chân, không có lông xunh quanh mắt hay toàn bộ cơ
thể.
- Nếu ở dạng cục bộ thì vùng tổn thương thường gặp là trên
mặt, hai mí mắt, chân trước. Tổn thương cục bộ thường ở trạng thái nhẹ
thường không phát triển thành dạng viêm có mủ kế phát.
- Nếu ở
dạng toàn thân thì da đỏ với nhiều dịch rỉ máu và huyết thanh. Trường
hợp này thường kết hợp với viêm nhiễm do các vi trùng cơ hội như:
Staphylococcus aureus, Pseudomonas sp gây sinh mủ và có mùi hôi tanh.
Hình 2. Chó nhiễm Demodex rụng hết lông vùng mặt.
Hình 3. Chó nhiễm Demodex rụng hết lông vùng bụng
Hình 4. Demodex toàn thân1.5. Chẩn đoán
1.5.1. Lâm sàng


Dựa vào triệu chứng bệnh tích. Bệnh do Demodex không gây ra ngứa nhiều,
có nhiều chỗ rụng lông xuất hiện quanh mắt, tứ chi hay toàn bộ cơ thể. Ở
dạng cục bộ rụng lông thành từng vùng không thấy viêm. Dạng toàn thân
da đỏ với nhiều dịch rỉ, viêm da có mủ, mùi hôi tanh.
1.5.2. Phòng thí nghiệm

Ngoài việc chẩn đoán dựa vào triệu chứng đã mô tả nên kết hợp với
phương pháp tập trung bằng cách dùng dao cạo da ở những vùng tiếp giáp
giữa da lành và da bệnh cho đến khi rớm máu. Mẫu da cạo được phết đều
lên lame đã nhỏ sẵn 1-2 giọt Lactophenol sau đó đậy lamelle lên và xem
sự hiện diện của trứng hay Demodex dưới kính hiển vi.
2. Sarcoptes scabiei var canis
Đây là một bệnh nhiễm ký sinh trên da gây ngứa dữ dội, có thể lây lan giữa người và động vật do Sarcoptes scabiei var canis.
2.1. Phân loại học
- Ngành : Arthropoda
- Lớp : Arachnida
- Bộ : Acarina
- Phân bộ : Astigmata (Sarcoptiformes)
- Họ : Sarcoptidae
- Giống : Sarcoptes (Ghẻ)
- Loài : Sarcoptes scabiei canis
2.2. Đặc điểm hình thái cấu tạo
-
Ghẻ có hình tròn hay bầu dục, con đực nhỏ hơn con cái, kích thước con
đực 0,25 mm, con cái 0,4 – 0,43 mm. Cả con đực lẫn con cái đều có điệm
vuốt bàn chân. Trên mình phủ nhiều lông tơ, capitulum (đầu) có hình nón,
chiều ngang lớn gấp 2 lần chiều dọc. Mặt lưng có nhiều đường vân song
song, có 4 đôi chân ngắn nhú ra như măng tre mọc, mỗi chân có 5 đốt.
Cuối bàn chân có giác tròn với ống cán dài và có nhiều lông tơ. Hậu môn ở
rìa cơ thể và có thể thấy ở mặt lưng.
- Ghẻ đực có giác bàn chân ở
đốt chân số I, II, III, lỗ sinh dục ở giữa đôi chân thứ III. Ghẻ cái có
lỗ âm môn sau mặt lưng, có giác bàn chân ở đuôi I, II, trứng hình bầu
dục, màu trứng xám hoặc hơi vàng, kích thước 0,15 x 0,1 mm.
Hình 1. Hình dạng Sarcoptes
2.3. Chu kỳ sinh học

Vòng đời Sarcoptes scabiei var canis
Vòng đời của Sarcoptes scabiei var canis trải qua 5 giai đoạn phát triển:
Trứng -> Larva -> Protonymph -> Deutonymph -> Trưởng thành

Ghẻ ngầm đào rãnh dưới biểu bì lấy dịch lâm ba và dịch tế bào làm chất
dinh dưỡng. Sau khi giao phối ghẻ cái bắt đầu đẻ trứng, 3-4 ngày trứng
nở ra Larva có 6 đôi chân. Larva chui ra khỏi hang sống trên mặt da, sau
đó chui vào lỗ chân lông phát triển rồi biến thái thành Nymph có 8 đôi
chân, 4-6 ngày sau biến thành ghẻ trưởng thành. Hoàn thành vòng đời mất
15-21 ngày. Tùy thuộc vào môi trường bên ngoài ghẻ dạng trưởng thành có
thể sống từ 2-3 tuần khi rời vật chủ.
2.4. Triệu chứng bệnh tích
Có 3 biểu hiện chính:
- Ngứa

Do ghẻ đào hang, tiết ra độc tố, nước bọt và các chất bài tiết làm cho
con vật bị ngứa, khi trời nóng hay thú vận động thì ngứa càng nhiều. Chó
bị ghẻ hay gãi, nhây, cắn chổ ngứa. Đôi khi chó cọ sát lưng vào tường
hay nằm lăn qua lại dưới đất.
- Rụng lông
Ấu trùng chui vào
nang bao lông gây viêm bao lông cùng với việc cọ sát gây rụng lông,
rụng thành từng đám càng về sau càng lan rộng cùng với sự sinh sản của
ghẻ cái thích đi xa để thành lập những quần thể mới.
- Da đóng vảy

Chổ ngứa nổi những mụn nước bằng đầu kim, do cọ sát nên mụn vỡ, chảy
tương dịch rồi khô đi tạo vảy dính chặt vào lông và da, tiếp tục lan
rộng sau 5-6 tháng da hoàn toàn trơ trụi, đóng vảy dày và nhăn nheo như
da voi, bóc mùi hôi thối.
Bệnh làm cản trở chức năng da, con vật bị ngứa liên tục, mất ngủ chổ gãi bị nhiễm trùng, viêm tạo ung nhọt.
Hình 2. Chó bị rụng lông thành từng mảng lớn
2.5. Chẩn đoán
- Dựa vào triệu chứng bệnh tích lâm sàng.
- Dựa vào xét nghiệm ghẻ bằng phương pháp tập trung như chẩn đoán Demodex.
3. Nấm ngoài da Dermatophytosis

Nấm có thể xâm nhập mọi lớp da nhưng thường giới hạn ở lớp sừng và vùng
lân cận như lông móng. Những nấm này không xâm nhiễm lớp dưới da và mô
bên dưới của lớp da, do tác động kháng nấm của huyết thanh và dịch cơ
thể. Nấm thích hợp cho những mô da có chứa Keratin, cần thiết cho sinh
trưởng và phát triển. Nấm gây bệnh trên động vật thường chia làm 2 loại:
- Nấm gây bệnh thật sự như: Trychophyton, Microsporium.

- Nấm gây bệnh cơ hội gồm các giống như: Candida, Aspergillus,
Penicillium. Chúng chỉ gây bệnh khi sức đề kháng của cơ thể yếu đi.
Nấm da ở cho do
Microsporium
Bào tử nấm Aspergillus fumigatus(40 lần)3.1. Căn bệnh
Có rất nhiều nguyên nhân gây bệnh nhưng chủ yếu các nguyên nhân sau đây:
- Chế độ dinh dưỡng không hợp lý.
- Điều kiện chăm sóc không vệ sinh.
- Suy giảm miễn dịch trong thời kỳ nhiễm bệnh.
- Do lây nhiễm từ thú bệnh sang thú khoẻ mạnh.
- Do sử dụng kháng sinh lâu dài.

- Giống cũng là một yếu tố quan trọng vì những giống chó lông dài
thì cũng là điều kiện phát triển thuận lợi cho sự phát triển của nấm.
3.2. Triệu chứng bệnh tích
- Thời kỳ ủ bệnh 8-10 ngày

- Bệnh tích xuất hiện từ 15-20 ngày hoặc 30 ngày. Trong thời kỳ này
nếu sức đề kháng đủ mạnh thì bệnh có thể tự hết và lông mọc lại từ 2-3
tháng.
- Dấu hiệu của nấm thì rất đa hình đa dạng. Bệnh tích
điển hình là có dạng hình đồng xu, đường kính từ 1-8 cm, ở những vùng
rụng lông thì có vảy và ban đỏ.
- Những dấu hiệu lâm sàng khác của nấm:
+ Rụng lông có vảy thành đốm trên da, mặt, mắt, môi.
+ Rụng lông toàn thân kèm theo da nhờn, xếp li da.

3.3. Chẩn đoán
- Tại phòng khám:
Dựa vào triệu chứng lâm sàng như:
+ Rụng lông.
+ Ngứa.
+ Có vảy khô trên da như bị bụi phấn hoặc có những vảy cứng, đôi khi có mủ nếu nhiễn nặng.
- Tại phòng thí nghiệm
Gồm phương pháp nuôi cấy nấm:
Nuôi cấy nấm:

Sau khi chẩn đoán tại phòng khám, nếu nghi ngờ chó bị nhiễm nấm thì lấy
mẫu bằng cách: sát trùng vùng da cần lấy mẫu sau dùng dao cạo vùng da
bị nhiễm cho vào đĩa petri. Cấy bệnh phẩm lên môi trường Sabauroud. Để ở
nhiệt độ phòng vài ngày thì nấm men mọc sau 24-48 giờ, nấm mốc mọc sau
3-4 ngày, nấm da mọc sau 6-15 ngày. Nếu cần cho thêm kháng sinh vào để
diệt tạp khuẩn, quan sát hình dạng nấm mọc sau 15 ngày.
4. Phương pháp điều trị
4.1. Trường hợp chó bị nhiễm Demodex
- Dùng thuốc NOVA MECTIN 0,25%:
+ Phòng bệnh: Tiêm dưới da 1ml/ 6 kg thể trọng, 2 tháng 1 lần.
+ Trị bệnh: Tiêm dưới da 1ml/ 4 kg thể trọng, 2 tháng 1 lần
- Dùng thuốc NOVA MECTIN 1%:
+ Phòng bệnh: Tiêm dưới da 1ml/ 25 kg thể trọng, 2 tháng 1 lần.
+ Trị bệnh: Tiêm dưới da 1ml/ 16 kg thể trọng, tuần 1 lần, trong 3 tuần.
- Sát trùng nơi nhốt chó bằng NOVADINE hoặc NOVAXIDE
* Kết hợp với tắm xà phòng diệt ghẻ của anova là NOVA-PINK SHAMPOO tuần tắm 3 lần
4.2. Trường hợp chó bị nhiễm Sarcoptes
Dùng thuốc NOVA MECTIN 0,25%:
+ Phòng bệnh: Tiêm dưới da 1ml/ 6 kg thể trọng, 2 tháng 1 lần.
+ Trị bệnh: Tiêm dưới da 1ml/ 4 kg thể trọng, 2 tháng 1 lần
Dùng thuốc NOVA MECTIN 1%:
+ Phòng bệnh: Tiêm dưới da 1ml/ 25 kg thể trọng, 2 tháng 1 lần.
+ Trị bệnh: Tiêm dưới da 1ml/ 16 kg thể trọng, tuần 1 lần, trong 3 tuần.

Trong thời gian điều trị cần nhốt thú nơi khô ráo, sạch sẽ, tránh phụ
nhiễm. Kết hợp với tắm xà phòng diệt ghẻ của anova là NOVA-PINK SHAMPOO
tuần tắm 3 lần
- Sát trùng nơi nhốt chó bằng NOVADINE hoặc NOVAXIDE
4.3. Trường hợp chó bị nhiễm ghép Demodex và Sarcoptes

Trong trường hợp này thì nên sử dụng cả thuốc NOVA MECTIN 0,25% và
NOVA MECTIN 1% để điều trị cho chó bị nhiễm ghép. Chích thêm kháng sinh
NOVA-SEPTRYL 24% or NOVA-PENI-STREPTO chống nhiễm trùng phụ.
4.4. Trường hợp chó bị nhiễm nấm: Dùng sản phẩm NOVA-PINK SHAMPOO hay NOVA-GREEN SHAMPOO, dùng cho đến khi heat bệnh
4.5. Trường hợp chó bị nhiễm Demodex, Sarcoptes và có sự viêm nhiễm kế phát:

Trong những trường hợp chó bị viêm nhiễm nặng sẽ tạo điều kiện cho các
vi khuẩn cơ hội và sinh mủ phát triển như: Staphylococcus aureus,
Pseudomonas sp… ngoài việc điều trị bằng NOVA MECTIN 0,25% và NOVA
MECTIN 1% còn sử dụng thêm các loại kháng sinh, kháng viêm và thuốc tăng
cường sức đề kháng giúp da nhanh chóng phục hồi.
- Kháng viêm:
+ NOVA-PREDNI-C: 1ml/ 25-30kg thể trọng, tiêm sâu vào bắp thịt, ngày 1-2lần tùy theo mức độ nhiễm bệnh
- Thuốc tăng sức đề kháng
+ NOVA-C.VIT: 1ml/10kg thể trọng. Tiêm sâu vào bắp thịt, ngày 1-2 lần cho đến khi kgỏi bệnh.
+ NOVA-B.COMPLEX: 1ml/con. Tiêm sâu vào bắp thịt.
+ NOVA-ATP COMPLEX: 1-2 ml/con/lần, tiêm sâu vào bắp thịt, ngày 1 lần, trong 4-5 ngày.
- Sát trùng nơi nhốt chó bằng NOVADINE hoặc NOVAXIDE
4.6. Trường hợp chó có biểu hiện bệnh tích trên da nhưng không tìm thấy Demodex, Sarcoptes.

Trường hợp này vẫn dùng NOVA MECTIN 0,25% hoặc NOVA MECTIN 1%. Ngoài ra
còn sử dụng kháng sinh và thuốc tăng cường sức đề kháng. Với triệu
chứng trên da biểu hiện rõ nhưng cạo da xét nghiệm không tìm thấy tác
nhân gây bệnh, vẫn tiến hành biện pháp điều trị như Demodex, Sarcoptes
và thu được kết quả cao.
5. GIUN TRÒN VÀ BỆNH DO GIUN TRÒN GÂY RA
5.1. GIUN ĐŨA (Toxocara canis)
5.1.1. Đặc điểm: Toxocara canis ký sinh ở ruột non của chó, mèo. Thường thấy ở chó dưới 6 tháng tuổi.
5.1.2. Phân loại
+ Họ : Anisakidae
+ Loài: Toxocara canis
5.1.3. Đặc điểm hình thái cấu tạo

Toxocara canis ký sinh ở ruột non, bao tử của chó. Đầu hơi cong về mặt
bụng có 3 môi, cánh đầu rộng, giữa thực quản và dạ dày ruột có dạ dày
nhỏ, đây là một đặc điểm của họ Anisakidae. Con đực dài 50-100 mm, đuôi
cong hơi tù, có cánh đuôi, có 2 spicule dài bằng nhau dài 0,075- 0,085
mm. Giun cái dài 90-180 mm, đuôi thẳng. Trứng hơi tròn kích thước 0,080 -
0,085 x 0,064-0,072 mm. Vỏ trứng dày màu vàng có lợn cợn như tổ ong.
5.1.4. Chu trình sinh học

Trứng theo phân ra ngoài gặp điều kiện thuận lợi sau 5 ngày phát triển
thành trứng có chứa ấu trùng gây nhiễm L2. Vật chủ cuối cùng ăn phải tới
ruột ấu trùng được giải phóng theo mạch máuvề gan lột xác thành L3 lên
tim, lên phổi sau đó ra khí quản được chó mèo nuốt trở lại ruột non lột
xác 2 lần phát triển thành trưởng thành sau 1 tháng. Ấu trùng có thể di
hành qua bào thai về phổi của thai lột xác thành L3. Khi được thai nhi
nuốt xuống ruột phát triển thành trưởng thành sau 3 tuần. Khi chó con bú
mẹ lẫn L3 vào ruột lột xác 2 lần thành trưởng thành. Một số ấu trùng do
đi lại chỗ mà đóng kén Toxaskar ở chó ăn phải trứng, sẽ trở thành vật
chủ tích trữ của Toxocara. Khi chó, mèo ăn phải sẽ bị nhiễm giun trưởng
thành.
5.1.5. Triệu chứng, bệnh tích
-
Triệu chứng: Chó mất tính thèm ăn, thiếu máu gầy còm, chậm lớn, tiêu
chảy, bụng to, ói mửa có lẫn cả giun. Những triệu chứng này thường thấy ở
chó dưới 2 tháng tuổi. Chó có triệu chứng thần kinh, co giật. Ấu trùng
di hành qua mặt thận, gan, phổi, não gây hoại tử các cơ quan và gây
viêm phổi, phù thủng, xuất huyết.
- Bệnh tích:
- Ruột to
hơn bình thường bên trong chứa nhiều giun, có khi gây tắc ruột hoặc vỡ
ruột, làm tắc ống dẫn mật và vỡ ống dẫn mật. Niêm mạc ruột viêm cata
xuất huyết. Nếu bệnh nặng gây viêm phúc mạc
5.1.6. Chẩn đoán

Xét nghiệm phân tìm trứng theo phương pháp phù nổi, Willis hoặc trực
tiếp, hoặc có thể dựa vào triệu chứng ói mửa, gầy còm, những lúc ói mửa
có cả giun ra đường miệng.
5.1.7. Điều trị:

- Cần kiểm tra định kỳ ít nhất 1 tháng 1 lần đối với chó con và 3
tháng 1 lần đối với chó mèo trưởng thành. Khi phát hiện thấy nhiễm định
kỳ dùng thuốc để tẩy cho chó mèo.
- Diệt vật chủ gậm nhấm, không cho chó tiếp xúc với cáo, chó sói và các loại thú ăn thịt. Không thả rong chó.
- Nuôi dưỡng chăm sóc tốt để nâng cao sức đề kháng.
- Sát trùng nơi nhốt chó bằng NOVADINE hoặc NOVAXIDE
- Khi chó mèo hoặc các loại thú ăn thịt nhiễm giun đũa nên dùng cá loại thuốc sau của công ty ANOVA như sau:
- Dùng thuốc NOVA-LEVA: 1 ml/ 15 kg thể trọng. Tiêm sâu vào bắp thịt, 1 liều duy nhất.
+ Thú non dưới 6 tháng tuổi: 2 tháng tẩy giun 1 lần.
+ Thú trên 5 tháng tuổi: 3-4 tháng tẩy giun 1 lần.
- Dùng thuốc NOVA MECTIN 0,25%:
+ Phòng bệnh: Tiêm dưới da 1ml/ 6 kg thể trọng, 2 tháng 1 lần.
+ Trị bệnh: Tiêm dưới da 1ml/ 4 kg thể trọng, 2 tháng 1 lần
- Dùng thuốc NOVA MECTIN 1%:
+ Phòng bệnh: Tiêm dưới da 1ml/ 25 kg thể trọng, 2 tháng 1 lần.
+ Trị bệnh: Tiêm dưới da 1ml/ 16 kg thể trọng, tuần 1 lần, trong 3 tuần.
Trong thời gian điều trị cần nhốt thú nơi khô ráo, sạch sẽ, tránh phụ nhiễm.
- Dùng thuốc NOVA-LEVASOL: 1g/ 8 kg thể trọng. Trộn đều thuốc vào 1 ít thức ăn hoặc pha vào một ít nước uống.
+ Thú non: Mỗi 2 tháng xổ 1 lần.
+ Thú lớn: Mỗi 6 tháng xổ 1 lần.
5.2. Giun móc (Ancylostoma caninum)
5.2.1. Đặc điểm:
Ancylostoma caninum ký sinh ở ruột non chó mèo.
5.2.2. Phân loại
5.2.3. Đặc điểm hình thái cấu tạo:

ký sinh ở ruột non chó, mèo. Bao miệng mỗi bên có 3 đôi răng chia 3
nhánh. Con đực dài 9-12 mm. Đuôi phát triển có túi chitin. Spicule dài
bằng nhau dài 0,74 –0,87 mm, đoạn cuối nhọn. Lái dài 0,13-0,21mm. Trứng
hình bầu dục, hai đầu thon đều gồm 2 lớp vỏ. Trứng mới thải ra bên ngoài
trong có 8 tế bào phôi.Hình 3. Hình dạng trứng giun móc
5.2.4. Chu kỳ phát triển

- Trứng theo phân thải ra ngoài gặp điều kiện ngoại cảnh thích hợp
sau 20 giờ tới một vài ngày hình thành ấu trùng trong trứng. Au trùng
chui ra khỏi trứng qua 6-7 ngày, lột xác 2 lần để tạo thành ấu trùng gây
nhiễm (L3). Ấu trùng gây nhiễm dài 0,59-0,69 mm, có thể bò ở nền
chuồng hay cây cỏ quanh chuồng. Nếu gia súc ăn phải ấu trùng gây nhiễm
vào trong phổi, lột xác lần 3 tạo L4, về ruột lột thành L5 sau 14 -20
ngày trở thành dạng trưởng thành.
- Đường gây nhiễm chủ yếu cho
chó mèo và gia súc, là đường chui qua da. Gia súc non dễ bị ấu trùng xâm
nhập qua da hơn là gia súc trưởng thành. Ấu trùng gây nhiễm dạng còn
non dễ xâm nhập qua da hơn là ấu trùng già. Khi xâm nhập qua da chỉ 40
phút tất cả các ấu trùng chuyển vào hệ thống tuần hoàn của chó. Trong 2
ngày đầu ấu trùng xâm nhập vào phổi nhiều nhất sau đó về ruột và phát
triển thành trưởng thành. Trong khi cho con bú, L3 trong máu sẽ truyền
qua sữa và gây nhiễm cho chó con. Ấu trùng cũng có thể bị chặn lại ở mô
cơ của ruột non mà không phát triển thành dạng trưởng thành. Ở Uncinaria
tương tự như Ancylostoma. Khi nhiễm qua đường miệng không có quá trình
di hành.
5.2.5. Triệu chứng và bệnh tích
-
Triệu chứng: Chó có thể chết nếu không được chữa bệnh và chăm sóc tốt
mặc dù giun móc không có nhiều . Chó thiếu máu, niêm mạc nhợt nhạt, gầy
còm, suy nhược. Khi nhiễm nặngchó, mèo bỏ ăn, kiết lỵ, táo bón, phân có
lẫn máu.
- Bệnh tích: Mổ khám thấy có nhiều giun cắn sâu vào niêm
mạc ruột ở giai đoạn không tràng. Niêm mạc ruột viêm cata và loét, hoặc
xuất huyết chảy máu. Giun móc hút máu và làm chảy máu nên vật thiếu máu
trầm trọng và gầy rạc.Hình.4. Niêm mạc ruột bị viêm do giun móc cắn ở giai đoạn không tràng
5.2.6. Chẩn đoán

Dựa vào triệu chứng thiếu máu và chó thường chết nhanh để chẩn đoán.
Cần xét nghiệm phân tìm trứng theo phương pháp phù nổi, Willis. Trứng
giun móc chó dễ dàng nhận biết qua xét nghiệm. Trứng của giun móc
Ancylostoma giống trứng của Uncinaria, chỉ có điểm khác biệt là trứng
của Ancylostoma nhỏ hơn. Ở chó con khi triệu chứng đã xuất hiện vẫn
không thấy trứng giun móc trong ruột. Nếu có 5000 trứng/ gam phân có
dấu hiệu lâm sàng và thiếu máu. Nếu có 11.000 trứng/gam phân coi như
nhiễm nặng.
5.2.7. Điều trị:
- Chăm sóc
nuôi dưỡng, chăm sóc chó, mèo chu đáo. Nếu thấy chó, mèo gầy ốm, thiếu
máu cần kiểm tra phân, hoặc cho chó mèo uống các loại thuốc tẩy giun móc
cho chó, mèo.
- Xung quanh nhà ở nên phát quang các bụi cây để
cho có ánh nắng trực tiếp xuống xung quanh nhà sẽ có tác dụng diệt trứng
và ấu trùng.
- Nuôi dưỡng chăm sóc tốt để nâng cao sức đề kháng.
- Có thể định kỳ dùng thuốc trị và phòng cho chó, mèo.
- Nên dùng thuốc cho chó mẹ 1 lần trong khi mang thai và 2 lần sau khi đẻ.
- Dùng thuốc NOVA-LEVA: 1 ml/ 15 kg thể trọng. Tiêm sâu vào bắp thịt, 1 liều duy nhất.
+ Thú non dưới 6 tháng tuổi: 2 tháng tẩy giun 1 lần.
+ Thú trên 5 tháng tuổi: 3-4 tháng tẩy giun 1 lần.
- Dùng thuốc NOVA-LEVASOL: 1g/ 8 kg thể trọng. Trộn đều thuốc vào 1 ít thức ăn hoặc pha vào một ít nước uống.
+ Thú non: Mỗi 2 tháng xổ 1 lần.
+ Thú lớn: Mỗi 6 tháng xổ 1 lần.
5.3. Giun tim Dirophilaria immitis
5.3.1. Đặc điểm

Do một số loài ký sinh trong động mạch chủ, trong tim, dưới da, trong
hốc cơ thể, xung quanh thực quản và các cơ quan của chó mèo và thú ăn
thịt. Dirofilaria immitis (Leidy, 1856) ký sinh ở động mạch phổi, động
mạch chủ và tim của chó.
5.3.2. Đặc điểm hình thái cấu tạo: Giun
có màu trắng ngà mảnh và dài. Con đực 120-180 mm hai spicule không bằng
nhau dài 0,216-0,318 mm và 0,188-0,200 mm. Con cái dài 250-300 mm. Âm
hộ cách đầu 1,6-2,8 mm. Giun đẻ ra ấu trùng. Ấu trùng Microfilaria dài
0,220-0,290 mm rộng 0,007 mm và có vỏ bọc bên ngoài.
5.3.3. Chu kỳ sinh học

Cần có sự tham gia của vật chủ trung gian là muỗi Anopheles hyrcanus
var sinensis, A. vagus, Myzorhynchus preudopictus, Stegomyia fasciata,
S. albopicta, Culex fatigans, Bọ chét Ctenocephalides felis, C.canis.
Ngoài ra còn có muỗi Aedes và cả ve hút máu. Muỗi hút máu hút cả
Microfilaria vào ống malpighi sau 10 ngày trở thành ấu trùng cảm nhiễm (
L3) sau đó chuyển lên vòi của muỗi. Khi hút máu gia súc Microfilaria
xâm nhập vào vật chủ di chuyển về tim và động mạch phổi sau 85-120 ngày,
sau đó phát triển thành trưởng thành trong động mạch mất khoảng từ 8-9
tháng. Giun có thể sống trong cơ thể chó từ 3-5 năm.
5.3.4. Triệu chứng và bệnh tích

- Triệu chứng: Khi nhiễm nặng chó khó thở và kiệt sức, thiếu máu,
viêm thận, viêm bàng quang, nước tiểu có máu. Chó ói mửa liệt chân phù
thủng và rối loạn hoạt động của tim. Đầu chó hay nghiêng về một bên.
Những nốt sần chứa đầy tương dịch và xung huyết. Máu bị phân giải gây
hemoglobin niệu và bilirubin niệu.
- Bệnh tích: Tâm nhĩ phải nở
to, viêm cơ tim gây tắc mạch và nút mạch máu. Thành của tâm thất phải bị
rách. Tổ chức xung quanh thực quản có nhiều khối u, xơ hóa và cứng. Da
viêm những chỗ có ấu trùng giun thường bị xơ hóa.
5.3.5. Chẩn đoán

- Xét nghiệm máu tìm ấu trùng theo phương pháp tập trung. Lấy 5-10
ml máu cho vào ống nghiệm, cho thêm một ít dung dịch chống đông máu. Để
yên trong phòng 30 phút hoặc ly tâm trong vòng vài phút. Dưới đáy ống
nghiệm là hồng bạch cầu và huyết thanh Microfilaria thường nằm ở giữa
hồng cầu và huyết thanh. Dùng pipet hút nhẹ lớp dung dịch ở giữa hồng
bạch cầu và huyết thanh nhỏ lên lam kiểm tra. Larvae của Dirofilaria đầu
thon, đuôi thẳng chuyển động ngoe nguẩy. Kích thước lớn hơn 0,300 mm,
phía ngoài ấu trùng có màng bọc.
- Chẩn đoán huyết thanh học:
Giun chỉ ở chó mèo khi chẩn đoán nếu dùng kháng nguyên gắn kết để tìm
kháng thể không chính xác. Tạo kháng thể đơn dòng gắn kết sau đó xác
định kháng nguyên trong vòng tuần hoàn cho kết quả chính xác hơn.
5.3.6. Phòng và trị bệnh
- Dùng thuốc trị ấu trùng khi phát hiện chó có nhiễm larva.
- Diệt muỗi và vật chủ trung gian hút máu.
- Phòng chống muỗi đốt chó bằng kem hoặc các thuốc bôi thoa…
- Thường xuyên phòng bằng thuốc diệt larva
- Dùng thuốc NOVA-LEVA: 1 ml/ 15 kg thể trọng. Tiêm sâu vào bắp thịt, 1 liều duy nhất.
+ Thú non dưới 6 tháng tuổi: 2 tháng tẩy giun 1 lần.
+ Thú trên 5 tháng tuổi: 3-4 tháng tẩy giun 1 lần.
- Dùng thuốc NOVA MECTIN 0,25%:
+ Phòng bệnh: Tiêm dưới da 1ml/ 6 kg thể trọng, 2 tháng 1 lần.
+ Trị bệnh: Tiêm dưới da 1ml/ 4 kg thể trọng, 2 tháng 1 lần
- Dùng thuốc NOVA MECTIN 1%:
+ Phòng bệnh: Tiêm dưới da 1ml/ 25 kg thể trọng, 2 tháng 1 lần.
+ Trị bệnh: Tiêm dưới da 1ml/ 16 kg thể trọng, tuần 1 lần, trong 3 tuần.
Trong thời gian điều trị cần nhốt thú nơi khô ráo, sạch sẽ, tránh phụ nhiễm.
- Dùng thuốc NOVA-LEVASOL: 1g/ 8 kg thể trọng. Trộn đều thuốc vào 1 ít thức ăn hoặc pha vào một ít nước uống.
+ Thú non: Mỗi 2 tháng xổ 1 lần.
+ Thú lớn: Mỗi 6 tháng xổ 1 lần.
Về Đầu Trang Go down
http://doiten.forumotion.net
 
BỆNH NGOẠI KÝ SINH TRÊN CHÓ
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Diễn đàn chim cảnh. :: Kĩ thuật chăn nuôi :: Thú y-
Chuyển đến